Cũng như các máy in offset truyền thống, máy in kỹ thuật số HP Indigo hoạt động theo workflow:
Dữ liệu từ máy tính - in trực tiếp ra máy in - thành phẩm
Tuy nhiên, với một công nghệ mới, hoàn toàn khác với in offset truyền thống và cũng không giống các máy in kỹ thuật số khác, máy in HP Indigo cho ra những sản phẩm với chất lượng tương đương offset nhưng đáp ứng được các tiêu chí của một máy in kỹ thuật số.
Bài viết của chúng tôi dưới đây sẽ giới thiệu tới các bạn nguyên lý hoạt động cơ bản của một máy in tờ rời kỹ thuật số của HP Indigo.
Máy in HP Indigo hoạt động dựa trên nguyên lý chụp ảnh quang điện (ElectroPhotoGraphy). Theo nguyên lý đó, có 3 giai đoạn chính để in tái hiện hình ảnh trên vật liệu, đó là giai đoạn tạo ảnh, hiện ảnh và truyền ảnh. Mỗi chu trình hoạt động của máy HP Indigo tờ rời sẽ trải qua đầy đủ 3 giai đoạn này.
Sau đây chúng ta sẽ cùng tìm hiểu một chu trình hoạt động cơ bản của một máy in kỹ thuật số HP Indigo tờ rời.
Nguyên lý hoạt động của máy in HP Indigo - copyright HP Indigo
Giai đoạn 1: Giại đoạn tạo ảnh (Image Generation)
Về mặt lý thuyết, với công nghệ chụp ảnh quang điện, để tạo nên hình ảnh người ta sử dụng ánh sáng để chuyển đổi các vùng cục bộ trên các loại chất liệu đặc biệt từ chỗ là cách điện thành dẫn điện.
Việc chuyển đổi này có thể đạt được nhờ việc sử dụng các vật liệu quang dẫn (photoconductos). Các vật liệu quang dẫn có đặc tính là cách điện trong vùng tối, nhưng lại dẫn điện khi được chiếu sáng.
Đối với các vật liệu rắn, càng có nhiều điện tử tự do thì độ dẫn điện càng cao.
Trong máy HP Indigo, các thành phần chính tham gia vào giai đoạn này gồm có PIP, scorotron và đầu phát tia laser.
• PIP foil có chứa vật liệu quang dẫn. Khi được chiếu sáng vật liệu này sẽ trở nên dẫn điện.
• PIP foil có 7 lớp, mỗi lớp tham gia một phần vào quá trình tạo ảnh.
• Khi ánh sáng chiếu lên PIP, các điện tử sẽ di chuyển từ lớp này sang lớp khác để tạo nên các lỗ (mang điện tích dương) và hình thành nên hình ảnh trên bề mặt của PIP.
Bước đầu tiên trong giai đoạn chụp ảnh quang điện là việc tích điện (charge) cho bề mặt của PIP. Bộ phận có nhiệm vụ nạp điện tích cho PIP là Scorotron. Trong các máy in HP, một bộ Scorotron gồm 3 đơn vị Scorotron.
Mỗi đơn vị Scorotron gồm một hộp kim loại hở mặt đáy và được nối đất (Ground – mass máy). Bên trong hộp có một sợi dây kim loại cực mảnh. Một điện áp cao khoảng 6000V cấp cho sợi dây này làm hình thành nên những đám mây phân tử đã được ion hóa xung quanh sợi dây. Nhờ lực điện trường, các phân tử đã được ion hóa này sẽ bị hút về phía PIP.
Phần đáy hở của đơn vị Scorotron được che bởi một tấm lưới kim loại. Một điện áp cao khoảng -900V được cấp cho lưới này.
Với điện áp này các tấm lưới sẽ điều tiết về lượng cũng như tạo cho các điện tích có độ tích điện như nhau khi bị hút lên bề mặt PIP. Kết quả là một điện áp -900V được tích trên bề mặt PIP. Các điện tích này sẽ còn lại trên bề mặt PIP ở những vùng không bị chiếu sáng bởi tia laser.
Để tạo nên hình ảnh trên PIP, người ta dùng một thiết bị laser (writing head). Bằng việc chiếu ánh sáng laser lên bề mặt PIP, hình ảnh sẽ được tạo trên PIP bằng việc xả điện (discharge) của những điện tích ở những vùng cụ thể. Kết quả là những vùng mang ảnh trên PIP sẽ có một điện tích khoảng -50V.
Giai đoạn 2: Hiện ảnh (Image development)
Sau khi chùm laser tạo nên hình ảnh ẩn (latent image) trên PIP, các hình ảnh ẩn sẽ được hiện trong quá trình này.
Tham gia vào quá trình này có một bộ phận đặc trưng là BID và loại mực với công nghệ đặc thù của HP – ElectroInk.
BID (Binary Ink Development)
Các BID có nhiệm vụ lấy mực và áp vào các vùng đã được xả điện trên PIP – hay nói cách khác là áp mực vào những nơi mang hình ảnh ẩn trên PIP.
Các BID được gắn rất gần với ống PIP và sẽ tiếp xúc với ống PIP định kỳ theo thứ tự định sẵn. Khi BID và ống PIP tiếp xúc với nhau, lúc này cả hai sẽ di chuyển với cùng tốc độ bề mặt. Lúc đó BID sẽ tạo nên hình ảnh trên bề mặt PIP foil bằng việc quét mực trên phần hình ảnh đã tạo nên bởi đầu laser trong giai đoạn 1. Chính nhờ sự chênh lệch về điện tích của BID và PIP làm cho loại mực đặc biệt của HP (ElectroInk) sẽ dễ dàng ăn lên trên những vùng đã ghi ảnh.
Mỗi một BID ngoài chức năng lấy mực lên từ bình mực, hiện mực lên trên mặt PIP, còn có thêm chức năng là lấy đi những phần mực còn dư để trả về bình mực. Với chức năng này, BID bảo đảm được việc không có hiện tượng mực dư của màu này hòa lẫn cùng với mực màu khác (của BID kế tiếp) để tạo nên những màu mực không mong muốn.
Giai đoạn 3: Truyền hình ảnh
Hình ảnh có mực đã được hiện trên PIP ở giai đoạn 2 sẽ được thể hiện trên vật liệu in qua 2 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: truyền từ PIP sang cao su, và sau đó
- Giai đoạn 2: truyền từ cao su sang vật liệu in.
Chúng ta sẽ tìm hiểu nguyên lý hoạt động của từng giai đoạn này.
Giai đoạn 1: giai đoạn này còn được gọi là giai đoạn truyền ảnh thứ nhất (first transfer)
Tham gia vào giai đoạn này có các thành phần: ống PIP và PIP foil, bộ PTE (pre-transfer eraser), ống trung gian ITM (Intermediate Transfer Module) và cao su, trạm vệ sinh (cleaning station).
PTE (pre – transfer eraser)
Bộ PTE thực sự là một tập hợp các đèn LED nhằm để tạo ra một nguồn sáng với mức độ sáng cần thiết có nhiệm vụ là xả điện ở những vùng tích điện còn sót lại trên PIP. Với bộ PTE bảo đảm rằng những phần đã dính mực trên PIP sẽ được truyền hết qua cao su.
Cao su (blanket)
Cao su được gắn trên ống ITM. Cao su dung trong máy HP Indigo là loại có cấu tạo đặc biệt, gồm nhiều lớp. Trong đó có những lớp quan trọng nhất:
- Lớp đế cao su bảo đảm tính co giãn.
- Lóp dẫn điện tao cho trên cao su có sự phân cực
- Lớp dễ phóng thích (release layer). Đây chính là lớp tiếp nhận hình ảnh đã được hiện từ PIP trong giai đoạn truyền ảnh thứ nhất và truyền sang vật liệu trong giai đoạn truyền ảnh thứ hai.
Việc truyền hình ảnh đã hiện từ PIP sang cao su trong giai đoạn 1 được thực hiện nhờ có lực điện và cơ. Khi cơ cấu cơ khí đem hai ống (PIP và ITM) tiếp xúc với nhau và sau đó là hai ống quay cùng với cùng vận tốc bề mặt và tạo nên một lực ép tương đối giữa hai ống. Lực điện được tạo ra nhờ việc áp một điện tích dương rất cao lên trên cao su. Với việc hình ảnh đã hiện trên PIP có điện tích âm gặp một điện tích rất dương trên cao su sẽ làm cho việc truyền ảnh xảy ra nhanh chóng và đạt hiệu suất cao.
Cao su trên ống ITM được tích điện dương và được gia nhiệt đến nhiệt độ khoảng 100 độ C làm cho nhiệt độ của lớp mực trên cao su cũng được tăng lên. Ở nhiệt độ này, các phần tử mực phồng lên và có dạng như gelatin. Ở trạng thái này, hình ảnh trên cao su trở nên dễ dính và dễ dàng cho việc chuyển giao.
Giai đoạn 2: giai đoạn truyền ảnh thứ hai (second transfer)
Ống ép (impression drum – IMP)
Đây là giai đoạn mà hình ảnh được truyền từ ống ITM lên vật liệu.copyright HP Indigo
Nhờ một cơ cấu cơ khí, ống ép IMP sẽ tiếp xúc với cao su trên ống ITM. Với áp lực tiếp xúc của hai ống, hình ảnh mang mực sẽ được truyền từ cao su sang vật liệu trên ống ép. Do cao su có tính chất dễ phóng thích (release property) nên lớp mực dễ dính và đang nóng sẽ được truyền sang vật liệu in một cách dễ dàng.
Trạm vệ sinh (Cleaning station)
Bộ phận làm sạch - copyright HP Indigo
Sau khi hình ảnh được truyền từ PIP sang cao su (giai đoạn thứ nhất của việc truyền ảnh), bề mặt của PIP cần phải được làm sạch cũng như được làm mát để sẵn sàng cho việc được scorotron tích điện cho một chu trình mới. Công việc vệ sinh và làm mát này được thực hiện bởi trạm vệ sinh.
PIP sau khi đi qua trạm vệ sinh được làm sạch và làm nguội sẽ trở về trạng thái như ban đầu để sẵn sàng cho một chu trình mới với sự bắt đầu của việc nạp điện tích thông qua scorotron.
Tags: máy in HP, may in, in laze, in laze màu, in offset, in offset đẹp, in cao cấp, in chuyên nghiệp, in tuyệt, mực tốt, mực in xịn, mực in offset, mực in laze


































































































